học tiếng hàn quốc trực tuyến

TiengHanOnline.Com

Thông Tin Về So Nyuh Shi Dae

So Nyuh Shi Dae

So Nyuh Shi Dae
Girls' Generation
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danh So Nyuh Shi Dae (소녀시대), SNSD, SoShi, Girls' Generation
Nguyên quán Seoul, Hàn Quốc
Thể loại K-Pop
Năm hoạt động 2007 đến Nay
Hãng đĩa SM Entertainment
Universal Music Japan
Hợp tác với SM Entertainment
NATUYAWAVE Records
Website girlsgeneration.smtown.com
Thành viên hiện tại
Taeyeon
Jessica
Sunny
Tiffany
Hyoyeon
Yuri
Sooyoung
Yoona
Seohyun
Tên
Hangul
소녀시대
Hanja (Hán tự)
少女時代
Hán-Việt Thiếu nữ thời đại
McCune-Reischauer Sonyŏ Sidae
Romaja quốc ngữ Sonyeo Sidae

So Nyuh Shi Dae hay So Nyeo Shi Dae (tiếng Hàn: 소녀시대, 少女时代, tên tiếng Anh: Girls' Generation; tên tiếng Nhật: ShouJo JiDai, 少女時代, nghĩa là "Thiếu nữ thời đại") là một nhóm nhạc nữ Hàn Quốc gồm chín thành viên được thành lập bởi tập đoàn giải trí SM Entertainment vào năm 2007. Các thành viên gồm (theo thứ tự độ tuổi): Taeyeon (trưởng nhóm), Jessica, Sunny, Tiffany, Hyoyeon, Yuri, Sooyoung, Yoona Seohyun .

So Nyuh Shi Dae còn được biết đến với cái tên SNSD, đó là tên viết tắt của những chữ cái đầu các âm tiết của tên nhóm trong cách chuyển tự Latin tiếng Hàn Quốc (So Nyuh Shi Dae).

Ngày 5 tháng 8 năm 2007 được xem là ngày ra mắt chính thức của nhóm.

Nhóm đã phát hành hai album và nhiều đĩa đơn, tất cả đều đạt được thành công lớn. Đĩa đơn Gee phát hành năm 2009 của nhóm đang giữ kỷ lục về thời gian đứng hạng nhất trong chương trình KBS Music Bank lên đến chín tuần. [1]

Các thành viên của nhóm đều có các hoạt động đa dạng khác nhau trong ngành giải trí Hàn Quốc, họ tham gia đóng phim truyền hình, nhạc kịch, các chương trình truyền hình thực tế, dẫn chương trình và thực hiện các kế hoạch âm nhạc riêng.

Mục lục

[ẩn]
  • 1 Quá trình hình thành và phát triển
  • 2 Trước khi ra mắt
    • 2.1 Ra mắt và album đầu tiên
    • 2.2 Các hoạt động tiếp theo và ca khúc Gee
      • 2.2.1 Album thứ 2, ra mắt tại Nhật Bản và đĩa đơn Hoot
  • 3 Thành viên
  • 4 Danh sách đĩa nhạc
    • 4.1 Đĩa nhạc tiếng Triều Tiên
    • 4.2 Đĩa nhạc tiếng Nhật
  • 5 Các chương trình truyền hình
  • 6 Các giải thưởng
  • 7 Tin đồn và scandal
  • 8 Chú thích
  • 9 Liên kết ngoài

Quá trình hình thành và phát triển

Trước khi ra mắt

Mỗi thành viên đều được đào tạo chuyên nghiệp về ca hát và vũ đạo, nhưng cũng có một số được huấn luyện trở thành diễn viên hay người mẫu. Trước khi ra mắt, nhóm định đặt tên là "Super Girls", dựa theo tên của nhóm nhạc nam Super Junior. Nhiều thành viên trong nhóm đã được biết đến trong làng giải trí Hàn Quốc Nhật Bản trước khi ra mắt. Nhóm được thành lập và quản lý bởi tập đoàn SM Entertainment.

  • Sooyoung đã ra mắt tại Nhật Bản từ năm 2002 trong nhóm Route 0. Năm 2003, cô đóng quảng cáo cho Samsung AnyCall cùng với Park Jung Ah của nhóm Jewelry và làm người mẫu cho Chubbygang Clothing (Nhật Bản).
  • Yoona đã tham gia khá nhiều MV của các nghệ sĩ thuộc SM như: Magic Castle của DBSK (năm 2004), U của Super Junior (năm 2006), My Everything của CSJH (năm 2006) từ trước khi cô ra mắt cùng nhóm. Cô cũng đóng nhiều chương trình quảng cáo như Sanyo Eneloop (năm 2006), Teun Teun English “Follow Me” (năm 2006).
  • Taeyeon cũng góp giọng cùng The One trong ca khúc "You Bring Me Joy" (năm 2004).
  • Hyoyeon thì tham gia M.Net KM Music Festival với vai trò là một vũ công nhảy đệm trong màn trình diễn “Over the Top” của BoA.
  • Yuri đã tham gia đóng quảng cáo cho sản phẩm bánh Chocopie của Orion cùng với Jang Dong Gun vào năm 2006.

Ra mắt và album đầu tiên

Tháng 7 năm 2007, So Nyuh Shi Dae xuất hiện lần đầu tiên trên M.net M! Countdown. Mặc dù không được phát sóng trên truyền hình nhưng phần trình diễn này đã được người hâm mộ ghi hình lại và đưa lên mạng. Đó là ca khúc "Into The New World" (다시 만난 세계), và đây cũng là đĩa đơn đầu tiên của nhóm.

Trong suốt thời gian ra mắt, có nhiều phim tài liệu hậu trường khác nhau về nhóm ra đời. Trong đó, "Girls’ Generation Goes to School" bắt đầu lên sóng ngày 27 tháng 7 năm 2007 trên Mnet. Phim này có tổng cộng 9 tập, với 7 lần trình diễn, 1 cảnh hậu trường nhìn vào thế giới của các cô gái và cuối cùng kèm theo một tập nhóm biểu diễn tại trường trung học của Sunny. Một chương trình khác tên MTV SNSD, phát trên MTV Korean, cũng nói về những suy nghĩ, cảm xúc của các thành viên trước và sau khi gia nhập SNSD cũng như cuộc sống thường ngày của từng thành viên trong nhóm.

Trong tháng 8 năm 2007, đĩa đơn "Into the New World" được phát hành, gồm cả hai ca khúc "Beginning" và "Perfect for you" (소원), sau này đổi tên thành "Honey", kèm theo một bản nhạc không lời của "Into the New World". So Nyuh Shi Dae bắt đầu thúc đẩy các hoạt động quảng bá cho đĩa đơn sau khi phát hành và biểu diễn trên SBS Inkigayo, MBC's Show! Music Core, và KBS's Music Bank.

Sau một kì nghỉ, nhóm đã phát hành album đầu tay vào cuối mùa thu năm 2007, với ca khúc chủ đề "So Nyuh Shi Dae" (소녀 시대). Kế hoạch quảng bá cho album bắt đầu vào đầu vào tháng 11 năm 2007. Nổi bật với phần vũ đạo và xướng âm, "So Nyuh Shi Dae" khá thành công, album này đã tiêu thụ được 121.143 bản và đứng thứ 12 trong bảng xếp hạng cuối năm [2].

Đầu năm 2008, So Nyuh Shi Dae bắt đầu tung ra đĩa đơn thứ hai, "Kissing You". Phần nhạc hình có sự tham gia của Donghae của nhóm Super Junior. Ca khúc chiếm ngôi vị quán quân trên ba bảng xếp hạng âm nhạc chính: SBS Inkigayo, M.net M.Countdown! và KBS Music Bank.

Các hoạt động tiếp theo và ca khúc Gee

Trong tháng 3 năm 2008, album đầu tay đã được tái bản với tiêu đề mới Baby Baby. Bài hát "Baby Baby" được chọn sử dụng để quảng bá cho album. Một album khác của Jessica, Tiffany và SeoHyun cũng được phát hành vào tháng 4 năm 2008 có tên Roommate, với khúc chủ đạo là bài "Oppa Nappa" ("오빠 나빠").

So Nyuh Shi Dae cùng với một số đồng nghiệp tại SM Town như BoA, TVXQ, Super Junior, CSJH the Grace, Zhang Liyin, SHINee cùng tham gia trong SM Town Live '08.

Một trong số các hoạt động nổi tiếng của So Nyuh Shi Dae là việc nhóm tham gia vào một chương trình truyền hình thực tế mang tên Factory Girl, được bắt đầu phát sóng vào đầu tháng 10 năm 2008. Chương trình này nói về các cô gái làm việc như một biên tập viên tập sự tại tạp chí thời trang hàng đầu "Elle".

Ngoài ra, cũng vào thời điểm đó, nhóm nhạc này còn xuất hiện trong nhiều chương trình quảng cáo khác mà tiêu biểu là MapleStory và Mabinogi cho hãng Nexon.

Hello Baby cũng là một trong những chương trình thực tế thành công vang dội của nhóm, đó là một chương trình thực tế khi các cô gái phải vào vai các bà mẹ chăm sóc cho một bé trai 9 tháng tuổi tên Kyung San.

Vào tháng 01 năm 2009, "Gee", mini-album đầu tiên của nhóm được phát hành. Gee đã đứng đầu bảng xếp hạng âm nhạc Cyworld suốt hàng giờ liên tục trong ngày phát hành. Ca khúc cũng đã giữ vị trí quán quân trên tất cả các bảng xếp hạng âm nhạc kỹ thuật số lớn trong vòng hai ngày liên tiếp.

So Nyuh Shi Dae bắt đầu xúc tiến việc quảng bá album của mình vào tháng 01 năm 2009 trên MBC Show! Music Core. Nhóm tập trung vào hai bài hát chủ đạo là "Gee" và "Him Nae/Way To Go". Trong đó, "Gee" chiếm ngôi đầu bảng tại chương trình âm nhạc Music Bank của kênh KBS dù nhóm vẫn chưa biểu diễn chính thức tại đây.

"Gee" là ca khúc giữ kỉ lục dài nhất tại một chương trình âm nhạc MCountdonw của kênh M.net trong 8 tuần, vượt qua kỷ lục trước đó của 6 tuần của Wonder Girls với "Nobody". Nhóm cũng đã phá vỡ kỷ lục trong bảng xếp hạng âm nhạc Music Bank của kênh KBS. Khi đã được xếp thứ nhất trong 9 tuần liên tiếp, phá kỷ lục 7 lần trước đó của Jewelry với "One More Time". So Nyuh Shi Dae cũng đoạt nhiều giải thưởng và "Gee" là bản nhạc bán chạy nhất trong nửa đầu năm 2009. Chương trình quảng bá cho album kết thúc vào cuối tháng 3 năm 2009.

So Nyuh Shi Dae trở lại vào tháng 6 năm 2009 với mini album tiếp theo Tell me your wish (Genie). Đây là album thứ 3 liên tiếp của nhóm đoạt doanh số hơn 100.000 bản. Trong bối cảnh thị trường âm nhạc Hàn Quốc hiện nay thì đây là những con số rất đáng ghi nhận đối với một nhóm nhạc thần tượng nữ.

Tháng 11 năm 2009, nhóm thông báo sẽ tổ chức tour diễn độc lập đầu tiên trong sự nghiệp mang tên Girls' Generation The 1st Asia Tour Into The New World"[3] Nhóm đã lập được kỷ lục với hơn 12.000 vé đã được bán hết chỉ trong vòng ba phút[4].

Sau thành công của chuyến lưu diễn đầu tiên, So Nyuh Shi Dae xác nhận rằng nhóm sẽ tổ chức một buổi hòa nhạc vào ngày 27 và ngày 28 tháng 02 năm 2010.[5]

Album thứ 2, ra mắt tại Nhật Bản và đĩa đơn Hoot

Đầu năm 2010, (So Nyuh Shi Dae) được chọn thể hiện ca khúc chủ đề mới của kênh SBS, "Naeireul Bomnida" (내일을 봅니다, Look at Tomorrow). [6]

Ngày 25 tháng 01, đĩa đơn "Oh!" được phát hành, phần video của ca khúc này được phát hành hai ngày sau đó.[7] Ngay sau khi ra đời, ca khúc nhanh chóng chiếm ngôi vị quán quân trên nhiều bảng xếp hạng.[8] Ngày 30 tháng 01, So Nyuh Shi Dae bắt đầu các hoạt động quảng bá của mình với màn trình diễn trong chương trình âm nhạc Music Core của [[Munhwa Broadcasting Corporation MBC.[9]

Bắt đầu từ ngày 11 tháng 3 năm 2010, những hình ảnh về các thành viên trong hình tượng "Black Soshi" lần lượt được tung ra, không giống với những hình ảnh đáng yêu từ trước đó mà tập trung khai thác về khía cạnh sexy một cách mạnh mẽ.[10]

Đoạn clip thử của "Run Devil Run" được tung ra vào ngày 16 tháng 3 năm 2010 và đĩa đơn được phát hành trên mạng vào ngày 17 tháng 3.[11] Video "Run Devil Run" cũng phát hành cùng ngày và sau một thời gian ngắn "Run Devil Run" đã chiếm lĩnh phần lớn các bảng xếp hạng âm nhạc lớn của Hàn Quốc. So Nyuh Shi Dae đã biểu diễn trực tiếp ca khúc lần đầu trong chương trình âm nhạc Music Bank của KBS vào ngày 19 tháng 3 năm 2010.[12][13]

Ngày 07 tháng 6 năm 2010, So Nyuh Shi Dae phát hành bộ sách ảnh đầu tiên mang tên So Nyuh (ở Tokyo). Bộ sách ảnh này đã nhận được hơn 35.000 đơn đặt hàng.[14]

Ngày 11 tháng 06 năm 2010, tập đoàn SM Entertainment thông báo So Nyuh Shi Dae chính thức ra mắt lần đầu tiên tại Nhật Bản với công ty Universal Music Japan và hãng thu âm NAYUTAWAVE Records. Nhóm phát hành đĩa DVD tổng hợp 7 MV cũ tại Nhật vào ngày 11 tháng 8 năm 2010, tổ chức hòa nhạc ra mắt tại Nhật vào ngày 25 tháng 8 năm 2010 tại sân vận động Ariake Colosseum. Đĩa đơn ra mắt đầu tiên tại Nhật của nhóm, phiên bản tiếng Nhật của ca khúc Genie được phát hành vào ngày 8 tháng 9 năm 2010.[15][16]

Nhóm cũng đã tham gia vào SMTown Live'10 Tour cùng các ca sĩ, nhóm nhạc, diễn viên trực thuộc SM Entertainment. Tour diễn được tổ chức ở Seoul (Hàn Quốc), Thượng Hải (Trung Quốc) và Los Angeles (Mỹ).[17] [18]

Ngày 25 tháng 8 năm 2010, nhóm đã tổ chức showcase đầu tiên tại Tokyo Ariake Colliseum.[19] Với con số ban đầu khoảng 10,000 fan tham gia, nó là buổi biểu diễn quy mô nhất của một nghệ sĩ Hàn Quốc mới ra mắt tại Nhật Bản. Mặc dù vậy, do số lượng người đăng ký tham gia quá lớn, công ty quản lý của nhóm tuyên bố buổi showcase sẽ được tổ chức 3 lần trong cùng một ngày thay vì 1 lần để đáp ứng số lượng ước tính khoảng 20,000 fan tham gia.[20] Nhóm đã hát 5 trong số những ca khúc tiếng Hàn của họ ở mỗi showcase. Tổng số lượng người tham gia ở cả 3 buổi biểu diễn ước tính khoảng 22,000 người.[21] Ở buổi biểu diễn này, MV của bài hát Genie phiên bản tiếng Nhật cũng được công chiếu lần đầu tiên, bản teaser đã được ra mắt vài ngày trước đó, ngày 20 tháng 8.[22]

MV phiên bản tiếng Nhật của ca khúc Genie xuất hiện vào ngày 23 tháng 8 năm 2010, trước đó teaser của MV đã được công bố vào ngày 20 tháng 8 năm 2010. [23] Ngay ngày đầu ra mắt, Genie đứng ở vị trí thứ năm trên bảng xếp hạng Oricon và leo lên vị trí thứ hai vài ngày sau đó, giúp nhóm đứng ở vị trí thứ 4 trên bảng xếp hạng tuần của Oricon Charts.[24][25][26] Nhóm cũng đạt được vị trí số 1 trên bảng xếp hạng MV của Japan iTunes, bảng xếp hạng video clip hàng ngày Rekochoku 1 ngày sau đó. Với 80,000 bản đặt trước, đĩa đơn tiêu thụ được 45,000 bản trong tuần đầu tiên ra mắt, một con số rất lớn đối với một nhóm nhạc mới ra mắt tại Nhạt Bản.[27][28] Genie cũng đạt được vị trí cao trên bảng xếp hạng Japan's Billboard, đạt #4 trên bảng xếp hạng Hot 100 , #5 trên Hot Single Sales Chart và #1 trên Hot Top Airplay chart.[24] Ngày 20 tháng 10 năm 2010, nhóm ra mắt đĩa đơn thứ 2 tại Nhật, "Gee".[29]

Ngày 20 tháng 10 năm 2010, đĩa đơn thứ hai tại Nhật của nhóm, Gee được phát hành, MV của ca khúc Gee phiên bản tiếng Nhật cũng được công bố ngay sau đó. Gee đạt được thành công lớn khi xếp thứ 2 tại Oricon chart ngay trong ngày đầu ra mắt. Ngày 26 tháng 10 năm 2010, đĩa đơn này leo lên vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Oricon Daily , giúp SNSD trở thành nhóm nhạc nữ đầu tiên ở châu Á xếp thứ 1 tại bảng xếp hạng này.[30][31]

Ngày 18 tháng 10 năm 2010, nhóm bất ngờ công bố teaser của ca khúc Hoot trên website chính thức, cũng là tên của mini-album tiếp theo của nhóm, phát hành ngày 27 tháng 10 năm 2010. Trong lần trở lại này, nhóm chuyển sang hình tượng Bond-girls. Phiên bản mp3 của ca khúc Hoot được công bố ngày 25 tháng 10 năm 2010 và ngay lập tức chiếm vị trí dẫn đầu các bảng xếp hạng âm nhạc trực tuyến như Monkey3, Dosirak, Melon, Soridaba, Cyworld, Bugs và Daum.[32] MV của ca khúc Hoot, với sự tham gia của Choi Siwon (Super Junior), được công bố ngày 28 tháng 10 năm 2010.

Thành viên

  • Taeyeon (태연) sinh ngày 9 tháng 3, 1989. Tên khai sinh là Kim Tae-Yeon (김태연)
  • Jessica (제시카) sinh ngày 18 tháng 4, 1989. Tên khai sinh là Jessica Jung (제시카 정), tên Hàn Quốc là Jung Soo-Yeon (정수연)
  • Sunny (써니) sinh ngày 15 tháng 5, 1989. Tên khai sinh là Lee Soon-Kyu (이순규)
  • Tiffany (티파니) sinh ngày 1 tháng 8, 1989. Tên khai sinh là Stephanie Hwang (스테파니 황), tên Hàn Quốc là Hwang Mi-Young (황미영)
  • Hyoyeon (효연) sinh ngày 22 tháng 9, 1989. Tên khai sinh là Kim Hyo-Yeon (김효연)
  • Yuri (유리) sinh ngày 5 tháng 12, 1989. Tên khai sinh là Kwon Yu-Ri (권유리)
  • Sooyoung (수영) sinh ngày 10 tháng 2, 1990. Tên khai sinh là Choi Soo-Young (최수영) (썸머 최)
  • Yoona (윤아) sinh ngày 30 tháng 5, 1990. Tên khai sinh là Im Yoon-Ah (임윤아)
  • Seohyun (서현) sinh ngày 28 tháng 6, 1991. Tên khai sinh là Seo Joo-Hyun (서주현)

Danh sách đĩa nhạc

Bài chi tiết: Danh sách đĩa nhạc của SNSD

Đĩa nhạc tiếng Triều Tiên

Album (phòng thu + tái bản)
  • 2007: Girls' Generation - Baby Baby
  • 2010: Oh! - Run Devil Run
Mini album (EP)
  • 2009: Gee
  • 2009: Genie
  • 2010: Hoot
Live album
  • 2010: Girls' Generation The 1st Asia Tour: Into the New World
Album đơn
  • 2007: Into the New World
Album biên soạn
  • 2008: Sweet Memories with Girls' Generation
  • 2008: Heart 2 Heart with Girls' Generation

Đĩa nhạc tiếng Nhật

Album
  • 2011: Girls' Generation (tiếng Nhật)
Mini album (EP)
  • 2010: Hoot (tiếng Nhật)
DVDs
  • 2010: Girls in Tokyo (DVD tặng kèm với tập ảnh đầu tiên của SNSD)
  • 2010: New Beginning of Girls' Generation

Các chương trình truyền hình

Năm Kênh Tên Số phần Ghi chú
2007 M.net Girls Go to School 9
2007 MTV SNSD 10
2008~2009 M.net Factory Girl 10
2009 MBC We got married 13 (Phần 1, 42-54) Taeyeon cùng HyungDon
2009 MBC So Nyuh Shi Dae's Horror Movie Factory Dừng tại tập 6[33] Dừng vì tỷ lệ xem thấp
2009 KBS Hello Baby 22
2009 MBC Cheer Up Dừng tại tập 2 [34] Dừng vì nhiều người nói Cheer up sẽ làm hỏng danh tiếng của SNSD
2009 KBS Invincible Youth Dừng tham gia ở tập 32 Yuri Sunny. Để tập trung cho các hoạt động của nhóm ở nước ngoài.
2010 SBS Family Outing Season 2 17[35] Yoona
2010 KBS Winwin Show Dừng tham gia Taeyeon. Để tập trung cho các hoạt động của nhóm ở nước ngoài.
2010 MBC We got married 51 (Phần 2, 40-45 & 47-91) Seohyun cùng YongHwa (CNBlue)
2010 KBS Happy birthday Dừng tham gia ở tập 5 Jessica. Để tập trung cho các hoạt động của nhóm ở nước ngoài.
2010 SBS Running Man Tham gia tập 4 và 5

Tham gia tập 16

Jessica

Yuri

Các giải thưởng

Năm Giải thưởng
2007
  • 14th Annual Korean Entertainment Awards (Nhóm nhạc nữ mới xuất sắc nhất)
  • 14th Annual Korean Performing Arts Ceremony (Nhóm nhạc nữ mới xuất sắc nhất)
  • 2007 M.net Gold disk award: Anycall Newbie Award vào ngày 13 tháng 12
  • 2007 M.net Gold disk award: Anycall Popularity Award vào ngày 13 tháng 12
  • 12/9 Cyworld Digital Music Awards Rookie Of The Month September.
  • 6/10 14th Republic of Korea Women's Amateur entertainment for example, the Water Award.
  • 5/12 Foreign 5th Hong Kong singer Compensation Division.
  • 11/12 15th Korea Entertainment Awards Best New Artist Award.
  • 14/12 22th Golden Disk newcomer.
  • 14/12 22th Golden Disk Choice Award.
2008
  • 17th Seoul Gayo Awards: High1 Music Award on January 31st, 2008
  • 17th Seoul Gayo Awards: Best New Artist Award on January 31st, 2008
  • SBS Inkigayo Mutizen Award for <Kissing You> on February 3rd, 2008
  • #1 on M!Countdown for <Kissing You> on February 14th, 2008
  • SBS Inkigayo Mutizen Award for <Kissing You> on February 17th, 2008
  • #1 on M!Countdown for <Kissing You> on February 28th, 2008
  • #1 on Music Bank for <Kissing You> on February 29th, 2008
  • Song of the Month for the month of February 2008 from Cyworld <Taeyeon - IF>
  • #1 on M!Countdown for <Baby Baby> on April 10th, 2008
  • MNet 20's Choice: Hot Sweet Music award <Kissing You> on August 23rd, 2008
  • MNet 20's Choice: Hot DJ <Taeyeon> on August 23rd, 2008
  • Korean Drama Festival 2008: Netizen Popularity Award <Yoona - You Are My Destiny> on November 1st, 2008
  • 15th Annual Korean Entertainment Awards: Best Female Group
  • 2008 M.NET Golden Disk Awards: Yepp Popularity Award <Taeyeon - Can You Hear Me> on December 10th, 2008
  • KBS Drama Awards: Best New Actress <Yoona - You Are My Destiny> on December 31st, 2008
  • KBS Drama Awards: Netizen Popularity Award <Yoona - You Are My Destiny> on December 31st, 2008
2009
  • #1 on Music Bank for <Gee> on January 16th, 2009
  • SBS Inkigayo Mutizen Award for <Gee> on January 18th, 2009
  • #1 on Music Bank for <Gee> on January 23rd, 2009
  • #1 on Music Bank for <Gee> on January 30th, 2009
  • Song of the Month for the month of January 2009 from Cyworld <Gee>
  • SBS Inkigayo Mutizen Award for <Gee> on Feburary 1st, 2009
  • #1 on Music Bank for <Gee> on Feburary 6th, 2009
  • SBS Inkigayo Mutizen Award for <Gee> on Feburary 8th, 2009
  • #1 on Music Bank for <Gee> on Feburary 13th, 2009
  • #1 on Music Bank for <Gee> on Feburary 20th, 2009
  • #1 on Music Bank for <Gee> on Feburary 27th, 2009
  • 45th Annual Baeksang Awards: Netizen Popularity Award <Yoona - You Are My Destiny> on February 27th, 2009
  • 45th Annual Baeksang Awards: Best New Actress Award <Yoona - You Are My Destiny> on February 27th, 2009
  • #1 on Music Bank for <Gee> on March 6th, 2009
  • #1 on Music Bank for <Gee> on March 13th, 2009
  • #1 Overall for 1st Half of 2009 on Music Bank for <Gee> on June 26th, 2009
  • #1 on Music Bank for <Genie> on July 10th, 2009
  • Incheon Culture Day Ceremony : 2009 Young Artist Award
  • Nickelodeon Korea Kids Choice Awards : Best Female Singer Award
  • 17th Korean Cultural Entertainment Awards : Teen Musical Artist Award
  • 24th Golden Disk Awards : Digital Daesang Award (Gee)
  • 24th Golden Disk Awards : Digital Bonsang Award (Gee)
  • Congress Daesang Ceremony Award : Pop Music Award
  • 2009 MBC Entertainment Awards : Special Award - Best Singer
  • 2009 MBC Drama Awards : DJ Newcomer Award - <Taeyeon>
  • 2009 Melon Awards - Odyssey Award (Gee)
  • 2009 Melon Awards - Top 10 Artists
  • 2009 Melon Awards - Artist Of The Year
  • 2009 Melon Awards - Song Of The Year (Gee)
  • 2009 Melon Music Awards : T Mobile Music (Gee)
  • 2009 Melon Music Awards : Smart Radio
  • SBS Inkigayo Mutizen Award <Tell Me Your Wish> on July 12th, 2009
  • SBS Inkigayo Mutizen Award <Tell Me Your Wish> on July 19th, 2009
  • 6th Asia Song Festival'09 <Best Asian Artist> on Sept 19th, 2009
  • KBS Music Bank K-chart - Song of The Year (Gee)
  • 2009 Most Viewed MV on GomTV (Gee) with over 10 million viewers
2010
  • 16th Annual Korea Entertainment Arts Awards Ceremony: Best Female Group [36]
  • Korean Ministry of Culture and Tourism: Content Industry Award (Special Honor)[37]
  • 19th Seoul Music Awards: Bonsang Award ("Gee")[38]
  • 19th Seoul Music Awards : Digital Music Award ("Gee")[38]
  • 19th Seoul Music Awards : Daesang Award ("Gee")[38]
  • Cyworld Digital Music Awards: Bonsang Award ("Gee")[cần dẫn nguồn]
  • 7th Korean Music Awards: Song of the Year ("Gee")[39]
  • 7th Korean Music Awards: Group Musician of the Year [40]
  • SBS Inkigayo Mutizen Award (Oh!) on 11th Feb, 2010
  • 22nd Korea PD Awards : Singer Award on 19th Feb, 2010
  • KBS Music Bank K-Chart (Oh!) on 19th Feb, 2010
  • SBS Inkigayo Mutizen Award (Oh!) on 21st Feb, 2010
  • 1# For Digital Category For GaOn Charts (Gee) on 23rd Feb, 2010
  • KBS Music Bank K-Chart (Oh!) on 26th Feb, 2010
  • SBS Inkigayo Mutizen Award (Oh!) on 28th Feb, 2010
  • 2009 Cyworld Digital Music Awards Best 10 - Gee
  • KBS Music Bank K-Chart (Oh!) on 5th Mar, 2010
  • 46th Annual Baeksang Awards: Netizen Popularity Award <Yoona - Cinderella Man> on 26th March 2010
  • 7th Korean Music Awards - Group Musician of the Year (Netizens Vote)
  • 7th Korean Music Awards - Daesang Award (Song Of The Year) - Gee
  • KBS Music Bank K-Chart (Run Devil Run) on 2nd Apr, 2010
  • SBS Inkigayo Mutizen Award (Run Devil Run) on 4th Apr, 2010
  • SBS Inkigayo Mutizen Award (Run Devil Run) on 11th Apr, 2010
  • KBS Music Bank K-Chart (Run Devil Run) on 12th Apr, 2010

Tin đồn và scandal

Cũng như nhiều nhóm nhạc khác, đi kèm với sự nổi tiếng của SNSD là những tin đồn, scandal và anti-fan. Trong đó điển hình là các tin đồn về phẫu thuật thẩm mĩ[41] hay scandal vô lễ với các bậc đàn anh[42] đã được mổ xẻ và lan truyền rộng rãi qua mạng internet. Bản thân thành viên Jessica cũng từng bị anti-fan quấy nhiễu nghiêm trọng.[43].

 

Comments   

 
0 #1 Linda Mèo Pông 2014-12-27 18:45
có snsd sao không có của t-ara vậy ?
Quote
 

Add comment

You are here: Home Học tiếng hàn qua bài hát SM Entertainment Girls' Generation Thông Tin Về So Nyuh Shi Dae

Liên Hệ

© 2010 TiengHanOnline.Com. All rights reserved . Thông Tin Liên Hệ

® Ghi rõ nguồn "TiengHanOnline.Com" khi phát hành lại thông tin từ website này.